Số liệu thống kê mới nhất cho thấy, tính đến hết năm 2024, đã có 73 quốc gia sử dụng hơn 20 loại cây trồng biến đổi gen, trong đó 44 quốc gia trực tiếp canh tác và 29 quốc gia được phép nhập khẩu để sử dụng làm thực phẩm và thức ăn chăn nuôi.
Sau gần 30 năm kể từ khi được thương mại hóa lần đầu vào năm 1996, khả năng ứng dụng cây trồng công nghệ sinh học (CNSH), hay cây trồng biến đổi gen (BĐG), tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ trên toàn cầu.

Riêng tại Việt Nam, ứng dụng cây trồng CNSH cũng tiếp tục ghi nhận những bước tiến ổn định kể từ khi ngô BĐG được đưa vào hoạt động từ năm 2015. Việc phát triển khai các giải pháp quản lý dịch hại tổng hợp từ năm 2019, đặc biệt trong phòng trừ keo sâu mùa thu, đã đưa ra cách mở rộng diện tích thực hành ngô BĐG. Đến năm 2024, diện tích đạt khoảng 430.000 ha, tương đương 54% tổng diện tích trồng ngô cả nước, cho thấy mức độ chấp nhận công nghệ ở mức đáng kể trong khu vực.
Theo báo cáo, ứng dụng ngô BĐG tại Việt Nam giúp tăng năng suất trung bình khoảng 30,4% và giảm tới 78% lượng thuốc bảo vệ thực vật sử dụng, qua đó góp phần giảm chi phí sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế cho nông dân. Hiện nay, đã có 31 giống BĐG kháng sâu được phê duyệt tiếp tục nâng cao hiệu quả canh tác.
trên toàn thế giới, số liệu trong báo cáo thường niên về “Tình hình ứng dụng cây trồng công nghệ sinh học năm 2024 trên toàn cầu” của ISAAA, chỉ rõ: Đến hết năm 2024, đã có 73 quốc gia sử dụng hơn 20 loại cây còn BĐG, trong đó 44 quốc gia trực tiếp canh tác và 29 quốc gia cho phép nhập để sử dụng làm thực phẩm và thức ăn. Tổng tích tích tích đạt 3,75 tỷ ha, phản ánh mức độ tin cậy ngày càng cao để tính toán an toàn và hiệu quả của công nghệ qua nhiều thập kỷ.
Trong năm 2024, tổng diện tích cây trồng BĐG trên toàn thế giới đạt 218,7 triệu ha, trình độ cao nhất kể từ khi công nghệ này được thương mại hóa, tăng gần 3,7 triệu ha so với năm 2023. Đáng chú ý, số quốc gia cánh tác đạt 31 gia quốc gia, trình độ cao nhất từ trước đến nay, với sự gia nhập của Ghana và Kenya, cho thấy châu Phi đang nổi lên như một khu vực tăng trưởng mới trong ứng dụng cây CNSH. Ghana hiện canh tác thanh côn sâu, trong khi Kenya bắt đầu trồng bông kháng sâu.
Các quốc gia đang phát triển tiếp tục đóng vai trò dẫn dắt xu hướng này, với tổng diện tích cánh tác đạt 124,8 triệu ha, sử dụng 57% diện tích toàn cầu. Trong khi đó, các nước phát triển sử dụng 93,9 triệu ha, tương đương 43%. Theo khu vực, Mỹ Latinh đầu thế giới với 102,2 triệu ha, sử dụng gần 47% tổng diện tích toàn cầu, vượt Bắc Mỹ với 91,7 triệu ha.
Bốn cây trồng chủ lực gồm đậu tương, ngô, bông và cải dầu tiếp tục sử dụng ưu thế về diện tích cánh tác. Trong đó, đậu tương giữ vị trí dẫn đầu với 107,2 triệu ha tại 11 quốc gia, tiếp theo là ngô với 72,56 triệu ha được trồng tại 18 quốc gia. Bông đứng thứ ba với 25,31 triệu ha, đồng thời là loại cây có số quốc gia áp dụng nhiều nhất (19 quốc gia), trong khi cải dầu đạt 11,15 triệu ha tại 4 quốc gia.
Số liệu này cho thấy cây trồng BĐG đang được ứng dụng rộng rãi, đặc biệt ở các loại cây có vai trò quan trọng trong chuỗi cung ứng thực phẩm, thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu công nghiệp.
Năm 2024, khu vực châu Á – châu Đại Dương sử dụng khoảng 10% diện tích cây trồng CNSH toàn cầu, với 20,81 triệu ha tại 9 quốc gia. Ấn Độ, Trung Quốc và Úc tiếp tục là các quốc gia dẫn đầu, đóng vai trò là động lực tăng trưởng chính của khu vực. Tuy nhiên, dù mức độ ứng dụng giữa các quốc gia khác nhau, xu hướng chung cho cây trồng CNSH ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất, giảm sử dụng thuốc bảo vệ vật và hỗ trợ ninh lương thực trong bối cảnh biến đổi khí hậu.
Ứng dụng CNSH trong nông nghiệp cũng đang là bước sang giai đoạn phát triển mới, với sự tăng cường mạnh mẽ về số lượng phê duyệt và công nghệ chiều sâu. Tính đến năm 2024, đã có gần 5.800 phê duyệt liên quan đến nhiều loại cây trồng BĐG khác nhau. Riêng trong năm 2024, có 287 phê duyệt mới cho thực phẩm, thức ăn chăn nuôi và canh tác, phản ánh ánh nhu cầu ngày càng tăng đối với các giống cây trồng cải tiến.
Xu hướng nổi bật là sự chuyển dịch từ ứng dụng các loại cây trồng mang đặc tính đơn sang các tổ hợp đa tính trạng, đặc biệt là sự kết hợp giữa khả năng kháng sâu và chịu thuốc trừ cỏ. Điều này cho thấy nhu cầu ngày càng cao đối với các giống cây trồng nhiều tính trạng cải tiến, có khả năng tối ưu hoá năng suất, quản lý dịch hại hiệu quả và thích ứng với điều kiện canh tác phức tạp.
Bên cạnh đó, việc gia tăng số lượng quốc gia và sự kiện được phê duyệt cũng phản ánh vai trò trò chơi ngày càng quan trọng của cây trồng CNSH trong việc giải quyết các công thức lớn của nông nghiệp hiện đại, bao gồm các bệnh sâu, biến đổi khí hậu và yêu cầu về chất lượng dinh dưỡng. Xu hướng này đồng liền kề với sự tăng trưởng nhanh chóng của thị trường CNSH nông nghiệp toàn cầu, dự kiến đạt tốc độ tăng trưởng gần 10% mỗi năm trong thập kỷ kỷ tới, khẳng định CNSH là một trong những trụ cột của nông nghiệp bền vững trong tương lai.
Bên bờ các cây trồng truyền thống, sóng sóng đổi mới đang mở rộng sang nhiều ứng dụng mới như cây trồng kháng bệnh, tăng giá trị dinh dưỡng và phục vụ môi trường tiêu điểm. Các ví dụ tiêu biểu bao gồm ngô kháng sâu và chịu hạn, chuối kháng bệnh Panama, bạch đàn tăng năng suất gỗ, cũng như các ứng dụng mới như cây cảnh phát sáng và cây lọc không khí. Điều này cho thấy các loại cây trồng CNSH đang chuyển từ mục tiêu tăng năng suất sang các giải pháp đa chức năng, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của nông nghiệp và đời sống.
Bài hát với tiến bộ công nghệ, hệ sinh thái chính sách và đổi mới sáng tạo cũng đang dần hoàn thiện, với tâm trí là mở rộng quy mô ứng dụng, tăng cường hợp tác quản lý và cung cấp thông tin học học. Các công nghệ mới như chỉnh sửa gen và nông nghiệp phân tử được kỳ vọng sẽ đóng vai trò sau đó thúc đẩy công việc nâng cao tính bền vững và khả năng chống chịu của hệ thống nông nghiệp trong tương lai.
Theo TS. Rhodora Romero-Aldemita, Giám đốc Điều hành ISAAA và là một trong các tác giả chính của báo cáo, việc phê duyệt và mở rộng canh tác cây trồng BĐG đang trở thành thành công giải pháp chiến lược giúp nhiều quốc gia gia ứng dụng với áp lực sâu bệnh, chi nhập khẩu nông sản gia tăng và nguy cơ thiếu nguồn cung lương thực.
“Mỗi gia đình cần phải quyết định tâm chính trị và pháp lý phù hợp để vượt qua rào cản hiện tại. Ưu tiên mở rộng ứng dụng CNSH trong nông nghiệp sẽ góp phần ổn định hệ thống lương thực và đưa ra lợi ích của việc đổi mới với nhiều cộng đồng hơn”, bà Aldemita nhấn mạnh.
Trung Quân
Nguồn: Doanh nghiệp & Thương hiệu
Link: https://doanhnghiepthuonghieu.vn/73-quoc-gia-tren-the-gioi-trong-cay-bien-doi-gen1-p69277.html





















